QUẢNG BÁ VĂN HÓA DÂN TỘC TRÊN KÊNH DU LỊCH TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT NAM- HVBCTT- AJC

Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO           HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

QUẢNG VĂN HÓA DÂN TỘC TRÊN KÊNH DU LỊCH TRUYỀN HÌNH CÁP

VIỆT NAM

Chuyên ngành : Báo chí học Mã số : 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

 

MỞ ĐẦU

Trong thời đại ngày nay, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã “phá vỡ” mọi chướng ngại về không gian và thời gian, góp phần to lớn trong việc thúc đẩy xã hội phát triển trên nhiều lĩnh vực. Những giá trị về văn hóa dân tộc là “món ăn tinh thần” không thể thiếu đối với xã hội đương đại, là một trong những nội lực to lớn cho sự phát triển đất nước. Hơn thế nữa, đó còn là “sức mạnh mềm” nhằm phát huy sự ảnh hưởng của quốc gia mình ra bên ngoài trong xu thế hội nhập và mở cửa. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng đã định ra chiến lược cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Các ban ngành chức năng nắm giữ trọng trách cốt yếu trong việc thực hiện những chủ trương, chính sách đúng đắn này.

Tuy nhiên, thời gian chưa đủ dài để có thể có những công trình khoa học nghiên cứu, khảo sát, đánh giá cụ thể và đầy đủ về các nội dung liên quan tới chất lượng, cách thức, kết quả của vấn đề quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch – Truyền hình cáp Việt Nam. Trong thực tế, đầu tư vào nội dung quảng bá văn hóa dân tộc chưa được chú trọng đúng mức từ các cấp lãnh đạo, quản lý. Đội ngũ cán bộ chuyên trách cũng như nội dung chương trình vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần bàn luận… Bản thân tác giả cũng là một người đang sát cánh cùng với kênh chương trình, càng hiểu hơn những thành tựu và khó khăn của kênh. Các vấn đề đã nêu thể hiện rõ tính cấp thiết và đặt ra nhiều khoảng trống cần luận giải.

Vì vậy, với những ý nghĩa nhất định về mặt lý luận và thực tiễn, tác giả đã lựa chọn vấn đề Quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Namlàm đề tài Luận văn thạc sỹ.

1.Tình hình nghiên cứuliên quan đến đề tài

Nghiên cứu về các vấn đề phát triển văn hóa, quảng bá văn hóa thu hút nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm. Bởi lẽ, văn hóa là cội nguồn của sự phát triển xã hội. Một xã hội có phát triển hay không đều thể hiện rõ bằng sự quan tâm của giới khoa học đối với các vấn đề liên quan tới văn hóa.

1.1.   Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Sách, báo của giới học giả các nước đã đề cập về vấn đề này một cách phong phú và chuyên sâu. Các công trình được xuất bản khá nhiều, bằng nhiều thứ tiếng. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài luận văn thạc sỹ, tác giả xin được đề cập tới một số công trình đã được dịch sang tiếng Việt, có liên quan trực tiếp tới phạm vi nghiên cứu của mình.

 

2.   Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục đích

Trên cơ sở tìm hiểu về thực trạng quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịchTruyền hình cáp Việt Nam, tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng các chương trình quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam trong thời gian tới.

2.2.   Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích đó, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:

  • Lý giải một số vấn đề lý luận liên quan đến nội dung đề tài: khái niệm văn hóa, quảng bá văn hóa dân tộc …
  • Khảo sát, đánh giá các chương trình quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt
  • Đề xuất một số kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các chương trình quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt

3.   Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1.   Đối tượng nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chương trìnhquảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt
  • Đối tượng khảo sát của luận văn là khán giả xem truyền hình cáp tại Hà Nội, biên tập viên, phóng viên phòng Nội dung 4 – Ban Biên tập truyền hình cáp – Đài Truyền hình Việt

3.2.   Phạm vi nghiên cứu

  • Nghiên cứu loại hình báo truyền hình.
  • Tập trung nghiên cứu vấn đề quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh truyền hình chuyên biệt về du lịch và văn hóa.

 

 

 

  • Thời gian khảo sát kênh: từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm

4.   Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

4.1.   Cơ sở lý luận

  • Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phương pháp tư duy biện chứng của Chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chỉ thị của Nhà nước đối với quảng bá văn hóa dân tộc trên báo chí và hoạt động báo chí.
  • Tham khảo và kế thừa hệ thống quan điểm lý luận, kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả đi trước thuộc các lĩnh vực báo chí, văn hóa, du lịch và các ngành khoa học có liên

4.2.   Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp trong nghiên cứu khoa học như:

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh trong việc xử lý các tài liệu liên quan đến báo chí học, truyền hình, sản xuất các chương trình truyền hình, quảng bá văn hóa dân tộc trên truyền hình, luận giải các vấn đề nghiên cứu, đưa ra các kết luận khoa học.

Đồng thời, tác giả cũng tiến hành phỏng vấn công chúng xem truyền hình, các nhà quản lý kênh, nhà báo, phóng viên, biên tập viên… để bổ sung chi tiết hơn cho kết quả nghiên cứu.

Luận văn sử dụng kết quả khảo sát qua bảng hỏi với 300 khán giả xem truyền hình cáp VCTV tại khu vực Hà Nội và kết quả phỏng vấn sâu các phóng viên phòng Nội dung 4 – Ban Biên tập truyền hình cáp – Đài Truyền hình Việt Nam.

5.   Đóng góp mới của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận về quảng bá văn hóa dân tộc trên truyền hình, đồng thời tổng kết, phân tích, khảo sát các

 

 

 

chương trình quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình quảng bá văn hóa dân tộc, có thể áp dụng tại các Đài Phát thanh – Truyền hình.

6.   Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần xây dựng khung lý thuyết cho kênh Du lịch, một khía cạnh còn khuyết thiếu trong thực tế xây dựng kênh hiện nay. Đồng thời, luận văn kiến giải những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các chương trình quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam.

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí cũng như các đối tượng quan tâm tới việc quảng bá văn hóa dân tộc trên sóng truyền hình.

7.   Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 10 tiết:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quảng bá văn hóa dân tộc trên truyền hình.

Chương 2: Khảo sát các chương trìnhquảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình Cáp Việt Nam.

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng các chương trình quảng bá văn hóadân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình Cáp Việt Nam.

 

 

 

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢNG BÁ VĂN HÓA DÂN TỘC TRÊN TRUYỀN HÌNH

 

1.1.   Một số khái niệm

1.1.1.   Quan niệm về văn hóa

Có thể nói rằng, khó có thể đưa ra một định nghĩa thống nhất cho khái niệm “văn hóa” là gì? Bởi lẽ, “văn hóa” là một hiện tượng phức hợp với nhiều đặc trưng, phản ánh đa chiều trong xã hội và mang tính thời đại sâu sắc.

Văn hóa là từ Hán Việt mà trong đó “văn” có nghĩa là hình thức đẹp đẽ biểu hiện trong lễ, nhạc, trong ngôn ngữ, trong cách cai trị; “hóa” là dạy dỗ, sửa đổi phong tục (giáo hóa) [10, tr.6]. Nó biểu hiện thành một hệ thống quy tắc ứng xử được xem là đẹp đẽ.

Cho đến nay, mọi người chưa phải đã đồng ý với nhau tất cả định nghĩa về văn hóa.

Người đầu tiên sử dụng khái niệm “văn hóa” với tư cách là thuật ngữ chuyên môn là E.B. Tylor, ông tổ ngành Nhân loại học của nước Anh. Trong cuốn Văn hoá Nguyên thuỷ, năm 1871, Tylor đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [40, tr.13].

Năm 1952, hai nhà Nhân học văn hóa người Mỹ là A.Kroeber và C.Kluckhohn đã thống kê khoảng 150 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong cuốn Culture – A Critical Review of Concepts and Definitions (Văn hóa – Tổng thuật có phê phán các khái niệm và định nghĩa). Theo các ông:

Văn hóa bao gồm những chuẩn mực, nằm ở bên trong lẫn biểu lộ ra bên ngoài, xác định hành vi ứng xử được tập nhiễm nhờ các biểutượng; văn hóa xuất hiện nhờ hoạt động của con người trong khi đưa sự biểu hiện của nó vào các phương tiện (vật chất). Hạt nhân cơ bản của văn hóa gồm các tư tưởng truyền thống (được hình thành trong lịch sử), đầu tiên là những tư tưởng có giá trị đặc biệt. Hệ thống văn hóa có thể được xem xét, một mặt như là kết quả của hoạt động người, mặt khác như là những sự điều chỉnh những hoạt động đó [1, tr.14].

Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục thế giới (UNESCO) đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:

Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân [41].

Như vậy văn hóa không phải một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển.

Năm 2011, Đại hội đồng UNESCO lần thứ 31 đã định nghĩa văn hóa: “Văn hóa nên được xem là một tập hợp các đặc trưng nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội, và ngoài văn học nghệ thuật nó còn bao gồm lối sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”.

Cách hiểu văn hóa theo nghĩa hẹp của UNESCO. Văn hóa là một tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng. Văn hóa bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tượng (đẹp hay xấu, đạo đức hay vô luân, phải hay trái, đúng hay sai…) theo cộng đồng ấy [18, tr.51].

Theo định nghĩa trên, UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của sự phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Tuy vậy, nêu lên vấn đề văn hóa tức là tự đặt mình vào đoạn giao lộ giữa hai vấn đề vừa mâu thuẫn vừa đan xen nhau. Đó là sự tiến triển của toàn cầu hóa và sự bảo tồn các bản sắc dân tộc.

Tuy nhiên, hiện nay các học giả và các nhà nghiên cứu có xu hướng chấp nhận quan điểm văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần hơn là quan điểm phân chia cụ thể văn hóa thành hai lĩnh vực: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.

Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu, học giả cũng đưa ra quan niệm của mình về văn hóa. Năm 1943, Hồ Chí Minh quan niệm:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [28].

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… Cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”.

Phan Ngọc vào thập niên 90 của thế kỷ 20 đã đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính thao tác luận, khác với những định nghĩa trước đó, theo ông:

Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác [31, tr.19-20].

Như vậy, theo Phan Ngọc, nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác [45, tr.21-22].

Trong bài Từ định nghĩa của văn hóa,Từ Chi đã đưa ra cách hiểu khái niệm văn hóa theo hai góc độ. Góc rộng hay còn gọi là góc nhìn dân tộc học, theo ông văn hóa ở góc độ này không tự hạn chế vào một số biểu hiện của cuộc sống tinh thần. Nó là toàn bộ cuộc sống (nếp sống) cả vật chất, xã hội, tinh thần của từng cộng đồng. Góc hẹp, góc thông dụng của cuộc sống hàng ngày hay còn gọi là góc nhìn báo chí, văn hóa được hiểu là kiến thức của con người và xã hội [18, tr.54].

Một định nghĩa khác khá ngắn gọn về văn hóa cũng được Từ Chi dẫn ra theo trí nhớ của mình: “Tất cả những gì không phải là thiên nhiên thì đều là văn hóa” [18, tr.54].

Văn hóa, theo Trần Quốc Vượng là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế…. để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là vai trò của con người trong vũ trụ đó, với một hệ thống những chuẩn mực, giá trị, những biểu tượng, quan niệm…. tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người [45, tr.17].

Như vậy, định nghĩa văn hóa tuy nhiều, nhưng về nội dung có nhiều điểm tương đồng và có thể khái quát những định nghĩa trên theo ba phương diện:

Thứ nhất: Hình thái ý thức (cũng có thể gọi là hình thái quan niệm) tức là thế giới quan, phương thức tư duy, tôn giáo, tín ngưỡng, đặc trưng tâm lý, quan niệm giá trị, tiêu chuẩn đạo đức, năng lực nhận thức… của con người.

Thứ hai: Phương thức sinh hoạt, tức là thái độ của con người đối với việc ăn, mặc, ở, đi lại, hôn nhân, tang lễ, sinh lão bệnh tử, cuộc sống gia đình và xã hội… và hình thức sử dụng những phương diện đó của họ.

Thứ ba: Sản phẩm vật hóa của tinh thần, tức là tất cả những gì mà về hình thức, được coi là vật chất, nhưng thông qua hình thức vật chất có thể phản ánh được những khác biệt và thay đổi trong quan niệm của con người [26, tr.33].

Hoặc có thể hiểu văn hóa theo định nghĩa rộng của F.Mayor Zaragoza, người đã từng giữ vị trí Tổng giám đốc UNESCO tuyên bố trong “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa” (1987-1997): “Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [46, tr.16].

Văn hóa là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích lũy được trong quá trình hoạt động thực tiễn, lịch sử được đúc kết thành các giá trị và chuẩn mực xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ thống ứng xử văn hóa của cộng đồng người [46, tr.16]. Một quan niệm khác, có định hướng khoa học về các nền văn hóa, đã hình thành từ thế kỷ XIX, theo

 

 

 

đó văn hoá không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Các nền văn hoá không có “tốt hơn”, “xấu hơn” mà chỉ là khác nhau. Chúng không được sắp xếp trong một trình tự lịch sử một chiều theo nguyên tắc từ thấp đến cao mà là tổng thể những giá trị như nhau trong việc điều tiết quan hệ quan lại giữa các cá nhân với nhau và với môi trường xung quanh [46, tr.11].

Dẫu khái niệm văn hoá càng ngày càng được tiếp cận và diễn giải phong phú, đa dạng, nhưng chúng tôi muốn nhắc đến hai định nghĩa – hai luận điểm được coi là cốt lõi : Định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh và định nghĩa văn hóa của UNESCO.

Hai định nghĩa này, tuy diễn đạt khác nhau, nhưng mục đích và chức năng của con người – cộng đồng con người trong nhân loại, thì đều giống nhau, như Hồ Chí Minh ngắn gọn “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, nhưng biểu hiện ra với sự đa dạng, phong phú, trongngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.. hay là “tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội”.

Đó là tổng thể các giá trị đặc trưng bản chất của văn hóa chung của nhân loại, của mỗi cộng đồng được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài, các giá trị đặc trưng ấy ở “tầng nền” mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn. Do vậy, muốn nhận biết nó, phải thông qua vô vàn các sắc thái, với tư cách là sự biểu hiện của văn hóa ấy.

UNESCO đã nhìn nhận văn hóa với ý nghĩa rộng rãi nhất của khái niệm này. Đó là phức thể, tổng thể các đặc trưng – diện mạo về tinh thần, vật chất, trí thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của cộng đồng gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng… Có những di sản văn hóa hữu

 

 

 

hình (tangible) như đình, chùa, miếu, lăng mộ… và những di sản văn hóa vô hình (intangible) gồm các biểu hiện tượng trưng và không sờ thấy được của văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một quá trình tái tạo và trùng tu của cộng đồng rộng rãi [18, tr.47].

Như vậy, từ những định nghĩa đã được nêu ra, chúng ta có thể thấy văn hóa không phải một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích lũy được trong quá trình hoạt động thực tiễn, lịch sử được đúc kết thành các giá trị và chuẩn mực xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ thống ứng xử văn hóa của cộng đồng người. Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá khứ chảy dài cho đến hiện tại. Các giá trị đặc trưng ấy ở “tầng nền” mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn. Qua thời gian, những hoạt động sáng tạo ấy sẽ tạo nên một hệ thống các giá trị, mang đặc tính riêng của mỗi dân tộc. Văn hóa sẽ luôn là chìa khóa của sự phát triển.

1.1.2.   Văn hóa dân tộc

Sự hình thành của Văn hóa quốc gia – dân tộc trên những khía cạnh nào đó là muộn hơn so với văn hóa tộc người. Cùng vận động với quá trình hình thành quốc gia, dân tộc.

Với sự hỗ trợ của hệ thống hành chính, của cơ chế quyền lực, lúc đầu trên bình diện chính trị – xã hội, dần dần về sau cả về phương diện kinh tế nữa, đã thực sự là tác nhân, một mặt cào bằng sự khác biệt tộc người, địa phương; mặt khác, lại tạo nên sự tách biệt giữa chúng với những tộc người, bộ phận tộc người nằm ngoài lãnh thổ quốc gia, khiến cho xu hướng phát triển tộc người của hai bộ phận tộc người có đường biên giới quốc gia chạy qua chừng nào có sự khác biệt [39].

Rõ ràng ở đây không thể đồng nhất văn hóa tộc người chủ thể với văn hóa dân tộc cũng như không thể tách biệt, nhấn mạnh nhiều đến tính cá thể

 

 

 

của văn hóa các tộc ít người vượt ra phạm vi của văn hóa dân tộc. Mỗi quốc gia thường có nhiều dân tộc, có thể trong đó có không ít tộc người sống vắt qua biên giới của nhiều quốc gia… Nhưng, không phải vì thế mà những tộc người đó không có tính quốc gia, dân tộc*. Có những quốc gia chính quyền nằm trong tay những tộc người thiểu số và không quyết định hoàn toàn bản sắc văn hóa dân tộc.

Văn hóa dân tộc được hình thành, bồi đắp không ngừng theo thời gian. Một năm, một thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ không dễ tạo nên cơ sở của một nền văn hóa dân tộc. Mỗi dân tộc có thể có những sức mạnh riêng về kinh tế, quân sự, tài nguyên, môi trường, nhưng sức mạnh về văn hóa có ý nghĩa đặc biệt. Nó tác động trực tiếp và lâu dài đến nhiều hoạt động xã hội. Theo một nhà nghiên cứu nước ngoài, Liên Hợp Quốc có 193 quốc gia thì chỉ có 34 dân tộc có nền văn hóa có bản sắc, trong đó có Việt Nam. Sức mạnh của văn hóa được tổng hợp từ nhiều nhân tố, nhiều điều kiện chính trị, xã hội nội tại không thể vay mượn được.

Văn hóa cũng chịu sự tác động của quy luật phát triển xã hội. Trong lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa, văn minh nhân loại, quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa đã diễn ra khá rõ nét giữa các quốc gia, giữa các khu vực và trên cả bình diện thế giới. Sự hội lưu, phát triển những giá trị văn hóa ngoại nhập trên cơ sở và bản lĩnh của văn hóa bản địa được xem là quá trình tiếp biến văn hóa. Kết quả của quá trình hình thành và vận động đó đã tạo ra bản sắc văn hóa.

Bản sắc văn hóa thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống – ý thức của một cộng đồng, bao gồm: cội nguồn, cách tư duy, cách sống, dựng nước, giữ nước, sáng tạo văn hóa, khoa học – nghệ thuật… Vì thế, hiện nay còn có khuynh hướng, đã nói đến văn hóa là nói đến bản sắc.

 

* Chẳng hạn, nhiều tộc người ở biên giới phía Bắc, phía Tây, Nam như : Hmông, Dao, Thái, Tày, Lào, Khơme…

 

 

 

Khái niệm Bản sắc văn hóa có hai quan hệ cơ bản: quan hệ bên ngoài là dấu hiệu để phân biệt các cộng đồng với nhau, quan hệ bên trong chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong một cộng đồng phải có.

Nội hàm của bản sắc văn hoá càng được nhiều nhà nghiên cứu văn hoá quan tâm. Phan Ngọc cho rằng: Bản sắc không phải là một “cái”, mà là một “kiểu”, cái cách một con người hay một dân tộc ứng xử kiểu này hay kiểu khác trước một tình huống, một thách thức, đến từ bên ngoài, từ cái khác, cái lạ. Nguyên Ngọc nhận thấy: Bản sắc là cái đồng nhất (với bên trong) và đồng thời khác biệt (với bên ngoài). Bản sắc không đứng yên, một lần là xong, một lần cho mãi mãi, mà biến đổi, cập nhật (s’actualiser). Với Trương Hữu Quýnh thì bản sắc văn hóa dân tộc là “những biểu hiện giá trị tinh thần hay vật chất nói lên đặc điểm của một tộc người nhất định, phân biệt họ với các tộc người khác”.

Phạm Đức Dương bàn về việc giao lưu, tiếp nhận các yếu tố văn hóa nước ngoài, cho rằng đó không phải là quá trình sao phỏng y nguyên các yếu tố ngoại lai nhập vào các yếu tố bản địa, mà đó là quá trình bản địa hóa các yếu tố ngoại lai. Ông cũng không quá nhấn mạnh các yếu tố nội sinh, mà còn chỉ ra những tác động tốt đẹp của sự tiếp xúc với văn hóa nước ngoài. Tuy nhiên, sự khác nhau của các nền văn hóa, tính độc đáo của mỗi nền văn hóa, hay nói cách khác bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc không chỉ được quy định bởi điều kiện môi trường, lịch sử xã hội mà còn bởi tâm lý con người. Khi nhận thấy: văn hoá của các cộng đồng, dân tộc cả khi họ ở sát cạnh nhau mà không bị ngáng trở bởi bất cứ ranh giới địa lý nào thì mỗi tộc người đều có ý thức khu biệt giữa “ta và người”. Phạm Đức Dương cho rằng, mỗi nền văn hóa có luật chơi riêng, quy định kiểu lựa chọn và tạo nên những đường nét độc đáo riêng. Nét độc đáo ấy chính là bản sắc văn hóa của dân tộc đó.

 

 

 

Bản sắc văn hóa dân tộc được biểu hiện qua các dạng thức văn hóa cơ bản là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.Văn hóa vật thể là những sáng tạo hữu hình của con người, như kiến trúc, hội họa, đường sá, vật dụng… Văn hóa phi vật thể là những sáng tạo vô hình của con người như văn học, âm nhạc, luật tục, ngôn ngữ, tín ngưỡng, tri thức dân gian… Trong mỗi dạng thức này, hiểu về văn hóa dân tộc được cụ thể hơn và rõ ràng hơn.

Như vậy, giá trị bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là những gì tinh túy nhất, quý báu nhất. Có thể nói bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính thống nhất, tính nhất quán so với chính mình trong quá trình phát triển, đặc biệt trong quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa.

Giá trị văn hóa dân tộc cũng chính là những nét riêng có của tinh thần, bản lĩnh, tâm hồn, tính cách dân tộc, là tâm lý, là sức mạnh nội sinh của từng nền văn hóa của mỗi dân tộc. Bản sắc văn hóa dân tộc còn là sức sống bên trong của mỗi dân tộc, là quá trình thường xuyên tự ý thức, tự khám phá, tự tái tạo, tự điều chỉnh và tự tiếp nhận, từ đó tạo ra cho dân tộc mình có những giá trị văn hóa riêng mà nền văn hóa khác không có.

Văn hóa dân tộc Việt Nam dưới quan niệm là văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa sắc thái văn hóa tộc người được thể hiện ở ba đặc trưng chính:

Đặc trưng thứ nhất: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tính ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật. Ngoài văn hoá Việt – Mường mang tính tiêu biểu, còn có các

 

 

 

nhóm văn hoá đặc sắc khác như Tày – Nùng, Thái, Chàm, Hoa – Ngái, Môn – Khơme, H’Mông – Dao, nhất là văn hoá các dân tộc Tây Nguyên giữ được những truyền thống khá phong phú và toàn diện của một xã hội thuần nông nghiệp gắn bó với rừng núi tự nhiên

Đặc trưng thứ hai: Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây bắc và Đông bắc. Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam bộvới sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khme đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên.

Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng nghìn năm nay. Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

Có thể nói xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam, đã có ba lớp văn hoá chồng lên nhau: lớp văn hoá bản địa, lớp văn hoá giao lưu với Trung Quốc và khu vực, lớp văn hoá giao lưu với phương Tây. Nhưng đặc điểm chính của Việt Nam là nhờ gốc văn hoá bản địa vững chắc nên đã không bị ảnh hưởng văn hoá ngoại lai đồng hoá, trái lại còn biết sử dụng và Việt hoá các ảnh hưởng đó làm giầu cho nền văn hoá dân tộc.

Văn hoá dân tộc Việt Nam nảy sinh từ một môi trường sống cụ thể: xứ nóng, nhiều sông nước, nơi gặp gỡ của nhiều nền văn minh lớn. Điều kiện tự nhiên (nhiệt, ẩm, gió mùa, sông nước, nông nghiệp trồng lúa nước…) đã tác động không nhỏ đến đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc, đến tính cách, tâm lý con người Việt Nam. Tuy nhiên, điều kiện xã hội và lịch sử lại là những yếu tố chi phối rất lớn đến văn hoá và tâm lý dân tộc. Cho nên cùng là cư dân vùng trồng lúa nước, vẫn có những điểm khác biệt về văn hoá giữa Việt Nam với Thái Lan, Lào, Indonesia, Ấn Độ… Cùng cội nguồn văn hoá Đông Nam Á, nhưng do sự thống trị lâu dài của nhà Hán, cùng với việc áp đặt văn hoá Hán, nền văn hoá Việt Nam đã biến đổi theo hướng mang thêm các đặc điểm văn hoá Đông Á.

Dân tộc Việt Nam hình thành sớm và luôn luôn phải làm các cuộc chiến tranh giữ nước, từ đó tạo nên một đặc trưng văn hoá nổi bật: tư tưởng yêu nước thấm sâu và bao trùm mọi lĩnh vực. Các yếu tố cộng đồng có nguồn gốc nguyên thuỷ đã sớm được cố kết lại, trở thành cơ sở phát triển chủ nghĩa yêu nước và ý thức dân tộc. Chiến tranh liên miên, đó cũng là lý do chủ yếu khiến cho lịch sử phát triển xã hội Việt Nam có tính bất thường, tất cả các kết cấu kinh tế – xã hội thường bị chiến tranh làm gián đoạn, khó đạt đến điểm đỉnh của sự phát triển chín muồi. Cũng vì chiến tranh phá hoại, Việt Nam ít có được những công trình văn hoá – nghệ thuật đồ sộ, hoặc nếu có cũng không bảo tồn được nguyên vẹn. Tuy nhiên, qua lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã để lại cho hậu thế một nền văn hóa mang đậm bản sắc của người Việt.

Nói như Giáo sư Vũ Đức Vượng (Hoa Kỳ), bản sắc văn hóa của người Việt là những gì có thể làm chúng ta hãnh diện khi nhìn vào trong gương hoặc đem ra chia sẻ cùng nhân loại. Và quan trọng hơn cả: những gì chúng ta truyền lại cho con cháu chúng ta mà không cảm thấy ngượng với hậu thế. Ông cho rằng có vài điểm “son” trong kho tàng văn hóa Việt ở thời điểm này: một

 

 

 

bản sắc lâu đời nhất mà ta biết được là bình đẳng giới; một nghệ thuật độc đáo nhất là múa rối nước và một món ăn tượng trưng cho người Việt ta là phở.

Theo ông, từ thời nguyên sơ, phụ nữ Việt đã có sự bình đẳng, thể hiện qua câu chuyện Mẹ Âu Cơ và Bố Lạc Long Quân. Ngoài việc dạy dỗ chúng ta về nguồn gốc, nó còn là một chuyện tình rất đẹp, rất nhân bản, và là một trang sử rõ ràng nhất về bình đẳng giới của người Việt nguyên thủy. Ông cũng cho rằng, rối nước là nghệ thuật hoàn toàn của người Việt. Bởi rối nước ra đời ở các làng mạc miền đồng bằng sông Hồng khoảng thế kỷ XI. Còn phở tượng trưng cho một bản chất của người Việt. Theo ông, phở nằm trong danh sách các món chúng ta mượn rồi biến chế thành một món ăn đặc trưng của chúng ta, đến nỗi ngày nay đi khắp nơi trên thế giới hầu hết ai cũng có thể nhận ra đây là món ăn Việt. Nhiều nước còn nhận chữ “phở” vào trong từ vựng của họ như một danh từ mới. Phở còn là biểu tượng những làn sóng di dân của người Việt trong thế kỷ trước: từ năm 1954, phở “nam tiến” rồi tiếp thu thêm các rau thơm của miền Nam để đến nay bát phở Pasteur và bát phở Bát Đàn, tuy thực chất không khác gì nhau mấy nhưng không ai không nhận ra là từ miền nào. Rồi từ năm 1975 trở đi, người Việt ta đã xuất khẩu phở ra khắp thế giới, như một lời chào đầu tiên khi chúng ta gặp mọi người: Chúng tôi đến từ Việt Nam! Không ai phủ nhận là trong kho tàng văn hóa Việt còn rất nhiều các “món” khác, cũng hấp dẫn, cũng đặc sắc, và cũng cần được bảo tồn, phát huy như ca dao truyền khẩu, lòng yêu nước, tình yêu, lòng hiếu học, tính hài hòa với thiên nhiên, hoặc một nồi cá bông lau kho tộ, một khúc hát Trịnh Công Sơn, một câu thơ Hồ Xuân Hương hay một câu vè dí dỏm không biết ai sáng tác…

Cộng đồng người Việt Nam dù ở nơi đâu trên thế giới đều luôn luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, quê hương; quan tâm bảo tồn bản sắc vàtruyền thống văn hóa dân tộc. Cho đến nay, các cộng đồng dân tộc khác ở các nơi trên thế giới đều đánh giá cao bản sắc, truyền thống văn hóa của cộng đồng người Việt Nam với những thể hiện độc đáo, mang tính nhân văn sâu sắc qua các loại hình văn hóa, nghệ thuật, phong tục, ẩm thực, lối ứng xử… Quảng bá văn hóa từ các phương tiện sẽ thực hiện nhiệm vụ đó.

Viết Luận văn THẠC SĨ, ĐẠI HỌC, BÁO CÁO THỰC TẬP, CHUYÊN ĐỀ….

Đảm bảo  uy tín chất lượng hàng đầu…

Cam kết 100% đạt yêu cầu

Để biết thêm nội dung toàn bộ bài xin liên hệ:

https://www.facebook.com/profile.php?id=100011566206621

Web: http://chuyenvietluanvanthacsi.com

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline: 0926.708.666

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.

Để lại bình luận

Scroll
0926708666
Power by

Download Free AZ | Free Wordpress Themes