Tạo động lực cho viên chức  viện Quy hoạch Việt Nam- KDCN-HUBT - Chuyên viết luận văn thạc sỹ

Tạo động lực cho viên chức  viện Quy hoạch Việt Nam- KDCN-HUBT

Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ

Tạo động lực cho viên chức  viện Quy hoạch Việt Nam 

LUẬN VĂN THẠC SĨ  QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI, 2018

 

 

 

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO VIÊN CHỨC CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1. Tổng quan về lý luận tạo động lực

1.1.1. Khái niệm liên quan đến tạo động lực cho viên chức

1.1.1.1. Khái niệm động lực

Động lực: “là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực được biểu hiện qua sự nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu mà tổ chức đưa ra cũng như bản thân người cán bộ công nhân viên (CBCNV)” (Nguyễn Hữu Thân, 2003, tr. 68).

Động lực CBCNV: “là sự khát khao tự nguyện của người CBCNV để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” (Nguyễn Hữu Thân, 2003, tr. 74). Người CBCNV khi có động lực thúc đẩy họ thì họ sẽ có thể làm việc hết với những khả năng của mình, họ sẽ cố gắng vươn tới những điều mà họ muốn, có thể là thăng tiến trong công việc hay có thể tăng thu nhập để đảm bảo cuộc sống gia đình, nâng cao đời sống vật chất trong sinh hoạt hàng ngày.

“Động lực CBCNV là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người CBCNV” (Bùi Anh Tuấn, 2003).

“Động lực CBCNV là sự khao khát, tự nguyện của người CBCNV để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” (Nguyễn Văn Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2008).

“Sự sẵn sàng, nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và thoả mãn nhu cầu bản thân người CBCNV” (Nguyễn Hữu Lam, 2007).

Theo quan điểm của tác giả, động lực viên chức có thể hiểu là sự nỗ lực, cố gắng, sự thôi thúc xuất phát từ chính bản thân mỗi người viên chức làm cho họ hăng say, tích cực, nhiệt huyết, thúc đẩy họ không quản khó nhọc trong quá trình chinh phục kết quả công việc của mình cũng như mục tiêu của tổ chức.

1.1.1.2. Khái niệm tạo động lực

Từ khái niệm về động lực làm việc, khái niệm tạo động lực cũng cần được xác định bởi tạo động lực chính là mục tiêu nhằm tạo ra động lực. Đó chính là mục tiêu quan trọng, là câu hỏi cho mỗi cá nhân VC và các nhà quản lý: “Làm thế nào để tạo động lực cho VC ở khu vực nhà nước, để họ thực thi nhiệm vụ công vụ đầy sáng tạo và hiệu quả?”, Như Behn đã khẳng định, là một trong 3 câu hỏi lớn cho bất cứ nhà quản lý nào ở cả khu vực công và khu vực tư cũng nên đặt ra và theo đuổi để trả lời. “Tạo động lực cho VC từ lâu trở thành một trong những nhiệm vụ khó nhất và quan trọng nhất đối với mỗi nhà quản lý” .Như vậy, để có được động lực cho VC thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó, bởi động lực trước hết xuất phát từ trong nội tại của mỗi cá nhân.

Dưới góc độ quản lý nhân sự, tạo động được hiểu là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, các thủ thuật quản lý tác động đến VC nhằm làm cho VC có được động lực để làm việc. Nói cách khác, đó chính là việc áp dụng các cách thức quản lý để tác động tới VC làm cho VC có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức. Để tạo động lực cho VC, nhà quản lý phải sử dụng tổng hợp các biện pháp nhằm tác động tới các cá nhân trong tổ chức nhằm tạo ra động lực làm việc cho họ.

Do vậy, theo tác giả, tạo động lực là quá trình sử dụng tổng hợp cách thức, biện pháp nhằm khuyến khích, động viên, khơi dậy niềm khát khao, tinh thần tự giác, tự nguyện của VC để họ nỗ lực, phấn đấu cho mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức.

Qua tìm hiểu khái niệm về động lực và tạo động lực, chúng ta nhận thấy vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng của động lực đối với mỗi cá nhân và tổ chức, đặc biệt đối với tổ chức trong nhiều trường hợp, chính động lực làm việc của nguồn nhân lực là yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định sự thành công, bởi lẽ chỉ khi mỗi người trong tổ chức có động lực, có sự tự nguyện từ bên trong bản thân, tạo ra động cơ khuyến khích VC làm việc, thúc đẩy sự sáng tạo, tăng năng suất lao động, hướng tới mục tiêu cần đạt được cho bản thân và cho tổ chức. Theo nghĩa đó, động lực lao động là sức mạnh vô hình từ bên trong con người, thúc đẩy họ lao động hăng say, gắn bó, có niềm tin và định hướng tốt đẹp cho mục tiêu chung của tổ chức.

Từ công thức hiệu suất lao động của Carter,S.,Shelton, M chúng ta có thể nhận thấy tầm quan trọng của động lực trong mối quan hệ với hiệu suất lao động:

P = A x R x M

trong đó: P là Hiệu suất làm việc – Performance ; A là khả năng/ năng lực làm việc – Ability; R là nguồn lực – Resource; M là động lực làm việc – Motivation. Dẫu rằng, động lực lao động chỉ là một nhân tố để tạo ra hiệu suất lao động, bởi bên cạnh đó còn có những nhân tố khác như trình độ, kỹ năng của VC; trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất hay còn gọi là các điều kiện để có thể thực thi công việc thì công thức trên vẫn cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của yếu tố động lực.

Từ công thức hiệu suất lao động chúng ta thấy: Giả sử trong trường hợp VC có khả năng làm việc tốt (A), có các nguồn lực, điều kiện để thực thi công việc tốt (R) nhưng nếu động lực làm việc không tốt (M = 0) thì hiệu suất lao động cũng không thể tốt, thậm chí bằng không (P = 0). Hơn thế nữa, trong thực tế, nếu các yếu tố A và R là các yếu tố tương đối “ổn định” trong một khoảng thời gian và điều kiện thực tế thì M lại luôn là yếu tố “động”, quyết định rất trực tiếp và tức thời đến hiệu suất lao động.

1.1.2. Mục đích và vai trò của tạo động lực

Động lực làm việc là yếu tố bên trong VC, có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động và hiệu quả thực hiện công việc. Doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu đề ra thì việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của VC là hết sức cần thiết. Để làm được điều này, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều biện pháp, giải pháp khác nhau trong đó tạo động lực lao động là một trong những giải pháp quan trọng, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và VC.

– Tạo động lực góp phần thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp:

Khi doanh nghiệp thực hiện tốt các chính sách tạo động lực cho VC, VC có động lực làm việc, thì sẽ tạo ra khả năng, tiềm năng để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác. Đồng thời, khi năng suất lao động và hiệu quả làm việc cá nhân của VC được nâng cao, sẽ làm giảm thời gian, các chi phí quản lý và sử dụng nhân lực. Do đó, nó sẽ thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

– Gắn bó VC lâu dài với doanh nghiệp:

Khi tạo động lực lao động tốt, VC được đảm bảo đời sống vật chất và đời sống tinh thần, thì họ cũng sẽ có sự thỏa mãn cao với công việc đang làm, từ đó làm việc với trạng thái tâm lý vui vẻ, thích thú, gắn bó với công việc, gắn bó lâu dài với tổ chức, không ngừng cố gắng phấn đấu nỗ lực học tập nâng cao trình độ, nghiên cứu tìm tòi sáng tạo ra những phương pháp, cách thức thực hiện công việc một cách có hiệu quả, nâng cao thời gian tác nghiệp thực hiện công việc, sử dụng hiệu quả thời gian làm việc.

– Xây dựng thương hiệu doanh nghiệp:

Khi tạo động lực lao động tốt, sẽ kích thích VC tích cực trong công việc để đạt được những mức năng suất lao động cao hơn, có thể thực hiện những công việc phức tạp hơn. Động lực này cũng thúc đẩy họ tích cực học tập, rèn luyện bản thân, nâng cao kỹ năng, khả năng làm việc. Điều này góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, giúp các tổ chức có thể đạt được những mục tiêu chiến lược khi chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao. Khi mà chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường, sẽ được khách hàng tin tưởng, sử dụng, chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả và phát triển. Do đó, thương hiệu của doanh nghiệp được khẳng định trên thị trường, và như vậy, doanh nghiệp có nhiều cơ hội để phát triển hơn.

Khi VC hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, thì VC nhận được tiền lương, tiền thưởng hoặc các phụ cấp, phúc lợi cao hơn, hoặc có cơ hội thăng tiến, phát triển,.. do đó đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần VC.

Con người luôn có những nhu cầu cần được thoả mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Khi VC cảm nhận những nhu cầu của mình có thể được đáp ứng khi hoàn thành tốt công việc, VC sẽ có trạng thái tâm lý thích làm việc hăng say hơn. Thực tế cho thấy VC chỉ làm việc tích cực, hăng hái tự nguyện khi mà họ được thoả mãn một cách tương đối những nhu cầu của bản thân, cụ thể hơn là các lợi ích mà họ được hưởng. Lợi ích là phương tiện để thoả mãn nhu cầu nên lợi ích mà VC nhận được phải tương xứng với những gì họ cống hiến thì mới làm cho VC nỗ lực vì công việc, mới tạo ra động lực cho CBCNV làm việc. Động lực lao động ngoài việc làm thoả mãn nhu cầu cơ bản cho VC, nó còn giúp cho VC có thể tự hoàn thiện mình. Khi có được động lực trong lao động VC có được nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình.

1.2. Nội dung VÀ CÁC nhân tố TÁC ĐỘNG TẠO ĐỘNG LỰC CHO viên chức CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.2.1. Nội dung cơ bản tạo động lực cho viên chức

1.2.1.1. Xác định nhu cầu của cán bộ viên chức

Là xác định khi nào, ở bộ phận nào cần phải tạo động lực, tạo động lực thông qua vật chất hay tinh thần, cho loại lao động nào và bao nhiêu người. Nhu cầu tạo động lực được xác định dựa trên phân tích nhu cầu lao động của tổ chức, các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần thiết cho việc thực hiện các công việc và phân tích trình độ, kiến thức, kỹ năng hiện có của người viên chức phân tích công việc của các cán bộ viên chức trong đơn vị công lập.

Để xem xét các vấn đề trên thì tổ chức dựa vào phân tích công việc và đánh giá tình hình thực hiện công việc. Để hoàn thành được công việc và nâng cao năng suất lao động với hiệu quả lao động cao, thì tổ chức phải thường xuyên xem xét, phân tích kết quả thực hiện công việc hiện tại của VC thông qua hệ thống đánh giá thực hiện công việc. Để tìm ra những yếu kém, những thiếu hụt về khả năng thực hiện công việc của VC so với yêu cầu của công việc đang đảm nhận, với mục tiêu dự kiến đã định trước để tìm ra nguyên nhân dẫn đến những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng của VC so với yêu cầu của công việc, tìm hiểu các nhu cầu về môi trường làm việc, nhu cầu về chế độ làm việc, nhu cầu về tiền lương thưởng của cán bộ viên chức đó là cơ sở xác định nhu cầu để nhằm tạo tạo động lực làm việc cho cán bộ viên chức.

Viết Luận văn THẠC SĨ, ĐẠI HỌC, BÁO CÁO THỰC TẬP, CHUYÊN ĐỀ….

Đảm bảo  uy tín chất lượng hàng đầu…

Cam kết 100% đạt yêu cầu


Để biết thêm nội dung toàn bộ bài xin liên hệ:

https://www.facebook.com/profile.php?id=100011566206621

Web: http://chuyenvietluanvanthacsi.com

Mail: Thacsi999@gmail.com

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.

Để lại bình luận

Scroll
0926708666
Power by

Download Free AZ | Free Wordpress Themes