ĐẨY MẠNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG- ĐH Đà Nẵng - Chuyên viết luận văn thạc sỹ

ĐẨY MẠNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG- ĐH Đà Nẵng

Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

 

ĐẨY MẠNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

 

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

 

ĐÀ NẴNG – 2018

 

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1. Các nội dung nghiên cứu của đề tài………………………………………………………… 4

Sơ đồ 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI……………………………………………… 5

Sơ đồ 3. Quy trình xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá thu hút vốn FDI …7

 

 

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1. Số dự án và tỷ lệ đầu tư FDI vào Đà Nẵng……………………………………….. 92

Biểu đồ 3.2. Lĩnh vực đầu tư FĐI vào Đà Nẵng……………………………………………………. 93

Biểu đồ 3.3. Tổng vốn đầu tư theo từng lĩnh vực………………………………………………….. 93

Biểu đồ 3.4. Vốn đăng ký và vốn thực hiện tại Đà Nẵng…………………………………….. 96

Biểu đồ 3.5. Vốn đăng ký và vốn thực hiện tại Việt Nam……………………………………. 96

Biểu đồ 3.6. Tốc độ tăng VA của khu vực FDI……………………………………………………. 99

Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ VA/GO ở khu vực kinh tế FDI……………………………………………….. 99

Biểu đồ 3.8. Thu nhập bình quân lao động trong các DN FDI……………………………. 101

Biểu đồ 3.9. Tỷ trọng đóng góp của các DN FDI vào GDP………………………………… 101

Biểu đồ 3.10. Tỷ trọng đóng góp của các DN FDI vào GDP………………………………. 102

Biểu đồ 3.11. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp FDI             104

Biểu đồ 3.12. Hàm lượng BOD5 trong nước thải của một số khu công nghiệp          105

Biểu đồ 3.13. Tỷ lệ các doanh nghiệp FDI phân theo quy mô vốn…………………….. 106

Biểu đồ 4.1. Dòng vốn FDI toàn cầu từ năm 2005 – 2016 và kế hoạch đến 2018 . 130 Biểu đồ 4.2. Các nước thu hút FDI nhiều nhất năm 2016………………………………………………………. 131

 

 

 

 

MỞ ĐẦU

1.   Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Vì vậy, cần phải có những giải pháp kịp thời tạo ra những ưu đãi khuyến khích thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng là việc làm cấp bách, nhất là khi sự cạnh tranh về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nước, trong khu vực và trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt. Trong khi nhu cầu về vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội vẫn phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn từ bên ngoài.

Với ý nghĩa đó, tác giả đã chọn: “Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ. Với mong muốn nghiên cứu và phân tích thực trạng thu hút vốn FDI thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI trong thời gian tới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển của của thành phố Đà Nẵng.

2.   Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Vận dụng cơ sở lý luận về thu hút nguồn vốn FDI để phân tích thực trạng thu hút nguồn vốn FDI của thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua, xác định những kết quả tích cực, hạn chế và nguyên nhân; đề xuất phương hướng, giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn FDI, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng.

Các mục tiêu cụ thể là:

  • Phân tích thực trạng thu hút vốn FDI của thành phố Đà Nẵng; xác định kết quả tích cực, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
  • Phân tích cơ hội, thách thức với Đà Nẵng trong thu hút FDI; Đề xuất phương hướng và giải pháp để tăng cường thu hút vốn FDI vào thành phố Đà Nẵ

3.   Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.   Đối tượng nghiên cứu

  • Luận án nghiên cứu về đẩy mạnh thu hút vốn FDI vào địa phương, những vấn đề về cơ chế, chính sách, quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách, lý luận và thực tiễn trong thu hút vốn FDI tác động đến kết quả thu hút FDI của thành phố Đà Nẵng.

3.2.   Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung về đẩy mạnh thu hút vốn FDI trên cả hai góc độ là tăng cường về qui mô và hiệu quả sử dụng vốn, nghiên cứu về cơ chế, chính sách thu hút của địa phương và quá trình thực hiện cơ chế, chính sách và những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu hút vốn FDI như hạ tầng, nhân lực, môi trường đầu tư…
  • Phạm vi không gian nghiên cứu: trên địa bàn thành phố Đà Nẵ
  • Phạm vi thời gian nghiên cứu chủ yếu vào giai đoạn 2010 – 2016 và giải pháp định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn
  • 1.   Kết cấu của luận án

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, tác giả tập trung nghiên cứu chủ yếu các vấn đề được phân bổ theo các chương sau:

    Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án Chương 2: Cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Chương 3: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua

    Chương 4: Định hướng và một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

2.1.   Khái niệm, đặc điểm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1.1.   Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) [56], FDI là hoạt động đầu tư nhằm đạt được lợi ích lâu dài trong doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp [30]. Như vậy, FDI là sự đầu tư với quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể thường trú trong một nền kinh tế (công ty mẹ) tại một doanh nghiệp trong một nền kinh tế khác không phải là nền kinh tế nhà ĐTNN (doanh nghiệp FDI, công ty chi nhánh, chi nhánh ở nước ngoài). Trong định nghĩa này, FDI hàm ý chỉ nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể tới việc quản lý điều hành doanh nghiệp ở nền kinh tế khác. Sự đầu tư này bao gồm: giao dịch ban đầu giữa hai chủ thể; giao dịch về sau giữa hai bên; và giao dịch giữa các cơ sở chi nhánh ở nước ngoài (cả chi nhánh có gắn kết và không gắn kết). Dòng vốn FDI có thể do cá nhân, tổ chức kinh doanh thực hiện, cung cấp trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp liên quan cho doanh nghiệp có vốn ĐTNN, hoặc nhận được từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN khác.

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) [106], FDI xảy ra khi nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là yếu tố để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Tài sản mà nhà đầu tư quản lý ở nước ngoài phần lớn là cơ sở kinh doanh. Trong trường hợp đó, nhà đầu tư được gọi là “công ty mẹ”, tài sản gọi là “công ty con” hay “công ty chi nhánh”.

Tóm lại: “Vốn FDI là hình thức đầu tư mà nhà ĐTNN đầu tư toàn bộ hay phần vốn đầu tư đủ lớn nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp ở nước chủ nhà”.

Như vậy, FDI đề cập đến hoạt động đầu tư để có được sự quan tâm lâu dài trong doanh nghiệp hoạt động bên ngoài nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là giành quyền kiểm soát, có tiếng nói hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp. Tiếng nói hiệu quả được hiểu là họ có thể ảnh hưởng đến quản lý của doanh nghiệp nhưng không có nghĩa là kiểm soát tuyệt đối. Đây là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt FDI với danh mục ĐTNN.

Đầu tư của công ty, cá nhân vào các công cụ tài chính được phát hành bởi chính phủ, công ty nước ngoài như: trái phiếu chính phủ, cổ phiếu, trái phiếu công ty. Mục đích của nhà đầu tư là giá trị vốn đầu tư, lợi tức họ nhận được từ đầu tư, không quan tâm đến mối quan hệ dài hạn và kiểm soát doanh nghiệp. Nhà đầu tư không có bất kỳ quyền kiểm soát nào trong quá trình ra quyết định của công ty [69]. Sự khác biệt chủ yếu ở đây chính là lợi ích lâu dài mà nhà đầu tư mong muốn ở doanh nghiệp nước chủ nhà. Họ kiểm soát lâu dài hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nước chủ nhà thông qua nắm giữ quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp với tỷ lệ đủ lớn để gây ảnh hưởng đáng kể về quản lý doanh nghiệp. Họ cũng có nguy cơ rủi ro cao hơn, nhưng có quyền kiểm soát, quản lý hoạt động doanh nghiệp một cách đáng kể hơn.

FDI được thực hiện dưới hình thức đầu tư mới bằng cách thiết lập công ty con từ đầu hoặc sáp nhập, mua lại công ty hiện có ở nước sở tại và chủ yếu được thực hiện bởi MNE. Đây là công ty có sự tham gia FDI, sở hữu, kiểm soát giá trị gia tăng hoạt động ở nhiều quốc gia [69], phải có đáng kể FDI chứ không chỉ là công ty xuất khẩu [62]. Hơn nữa, công ty phải tham gia quản lý hoạt động của công ty con chứ không đơn thuần là giữ chúng trong danh mục đầu tư tài chính thụ động. Vì vậy, công ty có nguồn nguyên vật liệu ở nước ngoài, cấp giấy phép công nghệ, xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài, hoặc chỉ nắm giữ cổ phần thiểu số trong liên doanh ở nước ngoài mà không có bất kỳ sự tham gia quản lý nào thì chỉ được coi là tập đoàn quốc tế. Họ không phải là MNE nếu không có đáng kể hoạt động FDI, chủ động quản lý và coi những hoạt động về chiến lược, tổ chức của công ty mà họ đầu tư như là bộ phận không thể tách rời của công ty. Vì vậy, giữa FDI và MNE thường có mối quan hệ mật thiết nhau. Đây là đối tượng chủ yếu, được nước chủ nhà quan tâm thu hút bởi tiềm lực tài chính, công nghệ, kỹ năng tổ chức quản lý và thị trường toàn cầu của MNE sẽ có tác động lan tỏa đối với nền kinh tế nước chủ nhà.

Ở Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp có vốn ĐTNN xuất hiện đầu tiên trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, theo đó doanh nghiệp FDI bao gồm: doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, trong đó, doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp mà phần góp vốn của bên nước ngoài không được thấp hơn 30% tổng số vốn. Theo Luật Đầu tư 2005, doanh nghiệp có vốn ĐTNN bao gồm doanh nghiệp do nhà ĐTNN thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà ĐTNN mua cổ phần, sáp nhập, mua lại, trong đó, đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Hiện nay, Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18-6- 2009 của Thủ tướng Chính phủ giải thích, doanh nghiệp FDI là “tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%”.

2.1.2.   Một số đặc điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hình thức di chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế từ nước này sang nước khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận cho nhà đầu tư. Vốn đầu tư là của cá nhân, công ty bỏ ra, chủ đầu tư nắm giữ quyền quản lý quyết định kinh doanh cùng với đối tác nước sở tại, cùng chia sẻ rủi ro và lợi nhuận. Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia, lợi nhuận và rủi ro được phân chia theo tỷ lệ góp vốn của các bên. Hình thức này mang tính khả thi, hiệu quả kinh tế cao, ít có ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế [52].

Nhà ĐTNN phải góp tỷ lệ vốn tối thiểu trong tổng vốn đầu tư để giành quyền kiểm soát, tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ này được quy định theo luật lệ mỗi quốc gia. Tài liệu hướng dẫn cán cân thanh toán của IMF 1993 quy định tỷ lệ vốn cổ phần nắm giữ tối thiểu 10%; theo chuẩn mực của OECD, tỷ lệ nắm giữ tối thiểu 10% cổ phần phổ thông hay 15% quyền biểu quyết. Thu nhập của nhà ĐTNN phụ thuộc kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ đầu tư, nó mang tính chất là khoản thu nhập kinh doanh, không phải là khoản lợi tức. FDI liên quan đến việc chuyển giao một gói tài sản gồm: vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý, tổ chức từ nước này sang nước khác. Do đó, nước chủ nhà có thể tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Đây là mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được. Nguồn vốn đầu tư có thể vốn đầu tư ban đầu của nhà ĐTNN dưới hình thức vốn pháp định, vốn tái đầu tư từ lợi nhuận, vốn vay của doanh nghiệp để mở rộng dự án trong quá trình hoạt động.

Hoạt động FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà cũng có cả công nghệ, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, năng lực Marketing, trình độ quản lý… Hình thức đầu tư này mang tính hoàn chỉnh bởi khi vốn đưa vào đầu tư thì hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành và sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường nước chủ nhà hoặc xuất khẩu [57], [58]. Do vậy, đầu tư kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những nhân tố làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Đây là đặc điểm để phân biệt với các hình thức đầu tư khác, đặc biệt là với hình thức ODA (hình thức này chỉ cung cấp vốn đầu tư cho nước sở tại mà không kèm theo kỹ thuật và công nghệ).

Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu vào vốn pháp định tuỳ theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài ở từng nước, để họ có quyền trực tiếp tham gia điều hành, quản lý đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phụ thuộc vào vốn góp. Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài càng cao thì quyền quản lý, ra quyết định càng lớn. Đặc điểm này giúp ta phân định được các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nếu nhà đầu tư nước ngoài góp 100% vốn thì doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành.

Quyền lợi của các nhà đầu tư nước ngoài gắn chặt với dự án đầu tư: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của nhà đầu tư. Sau khi trừ đi thuế lợi tức và các khoản đúng góp cho nước chủ nhà, nhà đầu tư nước ngoài nhận được phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định.

Chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia (chiếm 90% nguồn vốn FDI đang vận động trên thế giới). Thông thường các chủ đầu tư này trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp (vì họ có

 

 

 

 

mức vốn góp cao) và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ.

Nguồn vốn FDI được sử dụng theo mục đích của chủ thể đầu tư nước ngoài trong khuôn khổ luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại. Nước tiếp nhận đầu tư chỉ có thể định hướng một cách gián tiếp việc sử dụng vốn đó vào những mục đích mong muốn thông qua các công cụ như: thuế, giá thuê đất, các quy định để khuyến khích hay hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một lĩnh vực, một ngành nào đó.

Mặc dù FDI vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ song có phần ít lệ thuộc vào quan hệ chính trị giữa các bên tham gia hơn so với ODA.

Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ nước ngoài cho nước chủ nhà, bởi nhà đầu tư nước ngoài chịu trách nhiệm trực tiếp trước hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Trong khi đó, hoạt động ODA và ODF (Official Development Foreign) thường dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài do hiệu quả sử dụng vốn thấp.

2.1.3.   Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

  • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Đây là loại hình doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài bỏ toàn bộ vốn thành lập, tổ chức quản lý và điều hành. Loại hình này có đặc điểm là dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luật nước chủ nhà, sở hữu hoàn toàn của nước ngoài, chủ đầu tư nước ngoài tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, quyền lợi và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh thuộc hoàn toàn về nhà đầu tư nước ngoài nhưng thành lập pháp nhân tại nước sở tại nên chịu sự kiểm soát bởi pháp luật của nước sở tại [10].

2.1.3.2.       Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract)

Đây là hình thức liên doanh liên kết giữa một bên là đối tác trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh giữa các bên trong các văn bản ký kết mà không thành lập pháp nhân mới. Hình thức này có đặc điểm là hợp tác kinh doanh của các bên được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ký kết trong đó sẽ quy định rõ trách nhiệm và phân chia lợi nhuận của các bên, nước nhận đầu tư sẽ phê chuẩn hợp đồng giữa các bên, thời hạn hợp đồng

 

 

 

 

do các bên thỏa thuận. Loại hợp đồng này được áp dụng phổ biến nhất trong các lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác.

2.1.3.3.   Doanh nghiệp liên doanh

Đây là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế trong đó có các bên tham gia có quốc tịch khác nhau giữa một bên là nhà đầu tư của nước sở tại và bên còn lại là của đối tác nước ngoài. Hình thức này có đặc điểm là thành lập doanh nghiệp mới theo pháp luật của nước sở tại, có tư cách pháp nhân theo luật nước chủ nhà, các bên tham gia có quốc tịch khác nhau cùng kết hợp lại trên cơ sở cùng nhau góp vốn, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, cùng nhau chia sẻ rủi ro để tiến hành các hoạt động kinh doanh [11]. Tỷ lệ góp vốn do các bên thỏa thuận dựa trên cơ sở luật định của nước nhận đầu tư. Đây là loại hình doanh nghiệp mà nước nhận đầu tư có những lợi ích là ngoài phần tiếp nhận được phần vốn góp còn học tập được kinh nghiệm quản lý, đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề cao, tiếp thu được kỹ thuật tiên tiến. Nhưng để hình thức này đem lại lợi ích đó đòi hỏi nước sở tại có khả năng góp vốn, có đủ trình độ tham gia quản lý cùng với người nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, hình thức này chỉ phù hợp trong giai đoạn đầu khi mà họ chưa am hiểu về nước sở tại, về luật pháp và môi trường đầu tư, liên doanh để tranh thủ sự hiểu biết và hỗ trợ của đối tác nước sở tại nhằm hạn chế bớt rủi ro trong quá trình đầu tư. Tuy nhiên, khi các nhà đầu tư nước ngoài am hiểu nước sở tại rồi thì hình thức này không được ưa chuộng lắm, bởi khi họ đã hiểu và nắm rõ được luật pháp, thủ tục và các chính sách liên quan đến vấn đề đầu tư thì họ muốn tự mình ra các quyết định mà không phải thông qua sự đồng ý của các bên như trong liên doanh. Hơn nữa, trong quá trình hoạt động xu hướng của nước nhận đầu tư là tăng dần vốn góp trong doanh nghiệp liên doanh từ đó tăng mức ảnh hưởng, tiến tới kiểm soát toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp liên doanh gây rủi ro cho các nhà đầu tư nước ngoài.

2.1.3.4.   Các hình thức đầu tư vốn FDI khác

•   BOT (Building Operate Transfer)

Là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà

 

 

 

 

đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một khoảng thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho sở tại. Đặc trưng của hình thức này là dựa trên cơ sở pháp lý của hợp đồng, vốn đầu tư của nước ngoài, hình thức này có thành lập pháp nhân mới có thể là loại hình doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp liên doanh. Phạm vi áp dụng đối tượng hợp đồng là các công trình cơ sở hạ tầng đặc biệt trong lĩnh vực giao thông đường sắt, đường bộ, cảng biển, thủy điện…

•   BTO (Building Transfer Operate)

Là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước sở tại. Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.

Hình thức này giống như hình thức BOT chỉ khác ở điểm sau khi xây dựng xong công trình được chuyển giao ngay cho nước sở tại, sau đó mới thực hiện kinh doanh.

•   BT (Building Transfer)

Là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước sở tại; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT.

•   PPP (Public – Private – Partnership).

Đây là hình thức hợp tác công – tư, PPP là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nhằm xây dựng công trình, cung cấp dịch vụ với một số tiêu chí riêng. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ lập danh mục dự án ưu tiên đầu tư PPP hàng năm và tiến hành đấu thầu cạnh tranh để lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài đủ năng lực, kinh nghiệm nhất. Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính, quản lý từ nhà đầu tư, trong khi vẫn đảm bảo lợi ích cho người dân. Mỗi dự án PPP sẽ được hai bên đóng góp theo tỷ lệ góp vốn nhất định, tỷ lệ đóng góp của các bên tuỳ vào quy định của từng nước và từng thời kỳ.

Các hình thức BOT, BTO, BT, PPP rất phù hợp với các nước đang phát triển nơi mà cơ sợ hạ tầng còn yếu kém và không có đủ vốn để xây dựng. Như vậy, vốn FDI khi vào một nước nào đó thì có các hình thức như: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (liên doanh, hoặc 100% vốn nước ngoài) ngoài ra còn có hình thức mua lại và sáp nhập (M&A) tuy nhiên điều kiện thực hiện hình thức này còn phụ thuộc luật pháp ở từng nước.

Để biết thêm nội dung toàn bộ bài xin QUÝ KHÁCH HÀNG liên hệ:

https://www.facebook.com/profile.php?id=100011566206621

Web: http://chuyenvietluanvanthacsi.com

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline: 0926.708.666

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.

Để lại bình luận

Scroll
0926708666
Power by

Download Free AZ | Free Wordpress Themes